Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014
Người đẹp Hải Băng khoe cơ thể sexy nuột nà
Hải Băng - cựu thành viên Mây Trắng gây chú ý khi xuất hiện trong bộ ảnh mới với vẻ ngoài gợi cảm, quyến rũ.

Cựu viên nhóm Mây Trắng là tâm điểm của dư luận suốt thời gian qua khi bất ngờ chia sẻ về chuyện tình cũ của mình với Tiến Dũng, trong đó, lý do khiến mối tình của cô tan vỡ là do người thứ ba xen ngang và cướp mất. Đặc biệt, người thứ ba Lan Anh này cũng là một người bạn của Hải Băng và được cô giới thiệu để làm bạn diễn trong MV của Tiến Dũng.

Câu chuyện càng trở nên ồn ào khi cả Tiến Dũng và Lan Anh đều lên tiếng thừa nhận chuyện quen nhau khi Tiến Dũng vẫn còn mối quan hệ với Hải Băng, tuy nhiên, cặp đôi phủ nhận Lan Anh và Hải Băng là bạn thân mà chỉ là những người bạn bình thường, có vài lần gặp chung nhóm bạn.

Trước những lời chia sẻ của cặp đôi Dũng - Anh, Hải Băng chọn cách im lặng. Sau câu chuyện gây sốc cho nhiều người, Hải Băng không lên tiếng thêm bất kỳ điều gì. Cô cho biết, những gì đã chia sẻ là đủ và không muốn khiến khán giả khó chịu vì những cuộc tranh cãi triền miên của nghệ sĩ.

Hiện tại, Hải Băng tập trung cho dự án phim truyền hình Tình là dây oan và chuẩn bị tái xuất các sân khấu âm nhạc với hình ảnh nóng bỏng ca sĩ kiêm DJ.


Cô đã dành nhiều thời gian học DJ với DJ nổi tiếng Hoàng Anh và tự tin cho sự xuất hiện của mình trên sân khấu.


"Sau những chuyện buồn, tôi muốn mình trở thành cô gái mạnh mẽ trong mắt khán giả", Hải Băng chia sẻ.


Ở bộ ảnh mới, cô cũng mạnh dạn trút bỏ trang phục, tạo dáng tự tin qua ống kính của nhiếp ảnh gia Huy Bình. Hải Băng khoe được những đường cong sexy và những hình xăm thể hiện bản thân là một cô gái cá tính, mạnh mẽ. Vốn gắn liền với hình ảnh ngọt ngào, trong sáng, việc Hải Băng để lộ những hình xăm ấn tượng cho thấy cô sở hữu cá tính mạnh hơn vẻ ngoài.

Sau MV Cơn mưa quá khứ nhận được những phản hồi tốt, lượt xem khủng nhờ câu chuyện tình gây sốc, Hải Băng đang tập trung thực hiện dự án âm nhạc mới, mang phong cách sôi động, sẽ ra mắt khoảng tháng 9 tới đây.
Cựu viên nhóm Mây Trắng là tâm điểm của dư luận suốt thời gian qua khi bất ngờ chia sẻ về chuyện tình cũ của mình với Tiến Dũng, trong đó, lý do khiến mối tình của cô tan vỡ là do người thứ ba xen ngang và cướp mất. Đặc biệt, người thứ ba Lan Anh này cũng là một người bạn của Hải Băng và được cô giới thiệu để làm bạn diễn trong MV của Tiến Dũng.
Câu chuyện càng trở nên ồn ào khi cả Tiến Dũng và Lan Anh đều lên tiếng thừa nhận chuyện quen nhau khi Tiến Dũng vẫn còn mối quan hệ với Hải Băng, tuy nhiên, cặp đôi phủ nhận Lan Anh và Hải Băng là bạn thân mà chỉ là những người bạn bình thường, có vài lần gặp chung nhóm bạn.
Trước những lời chia sẻ của cặp đôi Dũng - Anh, Hải Băng chọn cách im lặng. Sau câu chuyện gây sốc cho nhiều người, Hải Băng không lên tiếng thêm bất kỳ điều gì. Cô cho biết, những gì đã chia sẻ là đủ và không muốn khiến khán giả khó chịu vì những cuộc tranh cãi triền miên của nghệ sĩ.
Hiện tại, Hải Băng tập trung cho dự án phim truyền hình Tình là dây oan và chuẩn bị tái xuất các sân khấu âm nhạc với hình ảnh nóng bỏng ca sĩ kiêm DJ.
Cô đã dành nhiều thời gian học DJ với DJ nổi tiếng Hoàng Anh và tự tin cho sự xuất hiện của mình trên sân khấu.
"Sau những chuyện buồn, tôi muốn mình trở thành cô gái mạnh mẽ trong mắt khán giả", Hải Băng chia sẻ.
Ở bộ ảnh mới, cô cũng mạnh dạn trút bỏ trang phục, tạo dáng tự tin qua ống kính của nhiếp ảnh gia Huy Bình. Hải Băng khoe được những đường cong sexy và những hình xăm thể hiện bản thân là một cô gái cá tính, mạnh mẽ. Vốn gắn liền với hình ảnh ngọt ngào, trong sáng, việc Hải Băng để lộ những hình xăm ấn tượng cho thấy cô sở hữu cá tính mạnh hơn vẻ ngoài.
Sau MV Cơn mưa quá khứ nhận được những phản hồi tốt, lượt xem khủng nhờ câu chuyện tình gây sốc, Hải Băng đang tập trung thực hiện dự án âm nhạc mới, mang phong cách sôi động, sẽ ra mắt khoảng tháng 9 tới đây.
Những nơi có khung cảnh thiên nhiên đẹp nhất thế giới
Fly Geyser, hay Fly Ranch Geyser, là một mạch phun nước nóng bán tự nhiên, bán nhân tạo. Năm 1964, các hoạt động khai thác nguồn năng lượng địa nhiệt tại nơi đây đã vô tình tạo ra Fly Geyser. Đài phun nước nằm trong một khu đất tư nhân tại bang Nevada, Mỹ và không đón khách tham quan. Ảnh: National News and Pictures
Hang Sơn Đoòng nằm tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam là hang động đá vôi tự nhiên lớn nhất thế giới. Hang này nằm trong quần thể hang động Phong Nha- Kẻ Bàng và là một phần của hệ thống ngầm nối với hơn 150 động khác ở Việt Nam, tọa lạc gần biên giới với Lào. Những du khách từng khám phá hang cho biết: "Chúng tôi như bước vào một thế giới khác". Ảnh: Amusing Planet
Công viên Hitachi, tọa lạc tại thành phố Hitachinaka, Nhật Bản, mang biệt danh là thiên đường hoa bởi hàng trăm loài hoa khoe sắc rực rỡ suốt 4 mùa. Với diện tích hơn 3,5 ha, du khách đến nơi đây sẽ như chìm vào biển hoa mênh mông tới tận chân trời. Ảnh: Wikipedia
Hàng năm, trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 9, hoa Lavender, hay hoa oải hương, nở rộ tại Hokaido, Nhật Bản. Hàng triệu bông oải hương nhuộm tím cả một vùng cùng hương thơm bay bổng khiến nơi đây giống như thiên đường. Ảnh: Amusing Planet
Salar De Uyuni ở Bonivia không chỉ là hồ muối tự nhiên lớn nhất thế giới mà còn nổi tiếng là một trong những thiên đường trên trái đất bởi khả năng phản xạ ánh sáng tuyệt vời. Ảnh: REX
Mùa hoa tulip ở Hà Lan kéo dài khoảng từ tháng 3 đến tháng 8. Mỗi năm, người dân Hà Lan trồng hơn 9 tỷ bông tulip và họ xuất khẩu 2/3 số chúng sang Mỹ và Đức. Ảnh: Amusing Planet
Chẳng biết từ bao giờ con đường xanh ngắt này đã mang cái tên "Đường hầm tình yêu". Nó là một đường hầm xe lửa tại khu vực Kleven, Ukraina. Ảnh: REX
Roraima là ngọn núi cao nhất trong cao nguyên Guyana thuộc Nam Mỹ. Nó nằm trên biên giới 3 nước Venezuela, Brazil và Guyana. Núi luôn chìm trong mây, khung cảnh tựa như trong truyện cổ tích với hệ động, thực vật phong phú. Ảnh: Yunnan.cn
Nhiều người có thể sẽ lầm tưởng rằng ngọn núi với màu sắc sặc sỡ như cầu vồng này là một sản phẩm của Photoshop. Tuy nhiên, đây là màu sắc tự nhiên của núi đá Zhangye Danxia tại tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Những tác động của thiên nhiên cùng với sự xói mòn, quá trình oxy hóa kết hợp với yếu tố khoáng chất nơi đây đã "nhuộm màu" cho dãy núi. Ảnh: REX
Rừng tre Sagano có diện tích 16 km2 và tọa lạc tại quận Arashiyama, thuộc vùng ngoại ô phía tây của cố đô Kyoto, Nhật Bản. Khu rừng nổi tiếng với những rặng tre bạt ngàn và thẳng tắp cùng những âm thanh du dương khi gió thổi. Người dân xứ sở hoa anh đào vô cùng yêu thích âm thanh này và cho rằng nó là một trong 100 âm thanh cần bảo tồn tại đất nước của họ. Ảnh: Mathieu Brummer
Hồ Hillier, tọa lạc tại hòn đảo Middle Island ở phía tây Australia, nổi tiếng bởi sắc nước hồ có hồng rực rỡ quanh năm. Hiện tại, các nhà khoa học vẫn chưa xác định nguyên nhân nước hồ Hiller mang màu hồng. Tuy nhiên, màu sắc này không phải là tác phẩm mà ánh sáng mặt trời tạo ra bởi khi lấy nước từ hồ lên, màu sắc của nước không hề thay đổi dù xê dịch vị trí. Ảnh: Amusing Planet
Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013
Chào
anh Huỳnh Tấn Mẫm! Hân hạnh được gặp lại anh. Bây giờ vào tuổi 70 nhưng
trông anh vẫn vui vẻ và nhanh nhẹn như xưa. Xin anh chia sẻ đôi nét về
hoạt động của anh trong các phong trào sinh viên học sinh yêu nước trước
năm 1975 tại Sài Gòn và sự lan tỏa của nó đến các đô thị miền Nam?
Như anh đã biết, các cao trào sinh viên học sinh đấu tranh vì dân sinh và hòa bình ở miền Nam Việt Nam là cuộc đấu tranh bằng máu và nước mắt đầy gian khổ và khốc liệt vô cùng. Những phong trào ấy góp phần quan trọng vào cuộc đánh đuổi ngoại xâm và thống nhất Tổ quốc.
Các cao trào đấu tranh là quá trình đánh địch trong lòng địch. Do vậy
chúng ta phải thuyết phục và khéo léo dựa vào dân, ẩn hiện trong dân.
Chúng ta không quên ơn những người từng giúp đỡ, che chở chúng ta trong
suốt chặng đường gian khổ ấy.
Làm sao nhớ hết những gì mình đã làm và những đầy đọa của chính quyền Sài Gòn trước đây đối với lực lượng học sinh, sinh viên yêu nước, trong đó có bản thân tôi.
Tôi sinh năm 1942 tại ấp Tân Sơn thuộc xã Tân Sơn Hòa, tỉnh Gia Định (bên trong Sân bay Tân Sơn Nhất ngày nay). Sau này Pháp giải tỏa mở rộng sân bay, gia đình tôi phải dọn về ấp Tân Trụ, xã Tân Sơn Nhì nay là phường 15, quận Tân Bình. Gia đình tôi có 6 anh em, tôi là con trai áp út. Cha tôi vì không biết chữ nên chạy xe thảo mộ (xe ngựa) vào đường cấm bị bọn lính đánh đến chết. Má tôi góa bụa từ tuổi 33, ở vậy nuôi con. Gia đình quá nghèo, má tôi phải làm nghề bốc mộ nuôi con. Tôi vừa đi học vừa phụ giúp má. Tôi gốc họ Trần. Ông nội tôi là Trần Văn Khá, hồi đó làm Chủ tịch xã Tân Sơn Hòa nhưng bí mật tham gia Việt Minh, tổ chức góp vũ khí giúp Việt Minh. Khi phát hiện được việc làm của ông tôi, giặc Pháp đánh chết ông tại trụ sở xã Tân Sơn Hòa nay là Trường Ngô Sĩ Liên. Ba tôi là Trần Văn Đặng. Vì sợ bọn chúng theo dõi nên má tôi đã đổi họ Huỳnh của má cho một nửa số anh em tôi. Do vậy, tôi có tên là Huỳnh Tấn Mẫm từ đó. Tên khó gọi, do vậy nhiều lần thầy giáo dạy chữ Hán ở Trường Pétrus Ký bắt đổi tên nhưng má tôi không chịu vì đó là tên ba tôi đặt. Nhà nghèo không có tiền đi học, tôi được thầy Đội Chiêu thương nên dạy không lấy tiền. Năm ấy tôi đậu vào đệ thất (lớp 6) tại Trường Pétrus Ký với tỷ số 200/5.000 thí sinh. Thầy và má tôi mừng lắm. Gia đình chỉ có một mình tôi đi học, còn các anh chị đều làm thuê kiếm sống. Những năm trung học tại Trường Pétrus Ký, tôi luôn học giỏi và được học bổng, cũng đỡ phần cho má tôi.
Nhớ năm lên 7 tuổi, tôi được các anh, các chú cách mạng tin tưởng giao làm giao liên xã. Học trong trường, tôi được tổ chức giao nhiệm vụ rải truyền đơn. Nhiều lần tôi bị bắt hụt. Ngày còn học tiểu học ở trường thầy Chiêu, thầy có lập đoàn kịch cải lương, tôi được chọn đóng vai chính trong các vở: "Hận nước thù nhà”, “Cờ lau tập trận”, “Thần Kim Quy”, “Quang Trung đại phá quân Thanh”. Tôi đóng các vai chính đạt yêu cầu và có giọng hát cải lương hay, người dân xóm làng đều tưởng tôi lớn lên sẽ là kép chính của Sài Gòn.
Năm 1958, đang học đệ ngũ, tôi được kết nạp vào tổ chức bí mật do anh Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí) lãnh đạo. Năm 1975, anh Sáu Chí là Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh. Tổ hoạt động gồm 3 người tại Trường Pétrus Ký: Tôi- Huỳnh Tấn Mẫm, anh Nguyễn Văn Lang và anh Lâm Xuân Lộc. Sau này, anh Lộc bị địch bắt, tra tấn rất dã man; anh Lang bị lộ, thoát ly vào chiến khu, chỉ còn lại mình tôi hoạt động. Trường Pétrus Ký nổi tiếng vì các phong trào đấu tranh cách mạng, như anh Trần Văn Ơn, đội quyết tử Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư... nên bọn cảnh sát luôn nhòm ngó.
Sau 7 năm học tại Trường Pétrus Ký, tôi đã thi đậu tú tài toàn phần, thi đỗ vào Trường Y khoa và Dược khoa. Sau tôi chọn học y khoa (1963).
Những người bạn thân ngày ấy có anh Nguyễn Hữu Anh- Tiến sĩ Toán, từng du học tại Mỹ; và các anh Nguyễn Hữu Anh, Ngô Vĩnh Long và Nguyễn Thái Bình đều đấu tranh chống Mỹ tại miền Nam. Năm 1972, anh Anh bị địch truy bắt phải trốn sang Canada; còn anh Bình bị trục xuất về nước và bị bắn chết tại Sân bay Tân Sơn Nhất. Từ thời Ngô Đình Diệm qua Nguyễn Văn Thiệu, tôi đã bị bắt hơn 11 lần và chúng tra tấn rất dã man. Có lần tôi bị bắt cùng với các anh chị: Nguyễn Tần Á, Tôn Nữ Quỳnh Trân, Hồng Khắc Kim Mai và bác sĩ Phạm Đình Vỵ. Chúng đưa tôi qua giam tại an ninh quân đội và tra tấn dã man. Một thời gian không khai thác được gì, trước áp lực đấu tranh của quần chúng bên ngoài, chúng đã thả tôi và số anh em khác ra. Ngày 3-2-1966 tôi được kết nạp vào Đảng tại nhà chị Hai Kiều.
Học y khoa năm thứ 4 thì tôi bị bắt trong một cuộc biểu tình nên không được dự thi học kỳ I lên năm thứ 5. Ở kỳ II, tôi đạt điểm cao nhưng không được cấp học bổng nữa. Tôi phải đi dạy kèm để chuẩn bị cho niên học 1969-1970.
Năm 1968, tôi được bầu làm Phó Chủ tịch Ngoại vụ Ban Đại diện sinh viên Y khoa Sài Gòn. Ngày 2-8-1969, liên danh của tôi đã thắng cử Ban Chấp hành Tổng Hội sinh viên Sài Gòn. Sinh viên Nguyễn Văn Quý được bầu làm Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sài Gòn và tôi Phó Chủ tịch Nội vụ Tổng hội. Hai tháng sau, sinh viên Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp ra trường, tôi lên thay quyền Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sài Gòn. Phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” ra đời cùng với đoàn văn nghệ sinh viên- học sinh, qua các thời kỳ đoàn trưởng như: Bác sĩ Trương Thìn (1965), Tôn Thất Lập (1969), Trần Xuân Tiến (1973). Trong lúc đó Mỹ- Thiệu tài trợ kinh phí cho các đoàn văn nghệ tuyên truyền chống cộng như: Nguồn Sống, Tiên Rồng, Du Ca của Phạm Duy và Nguyễn Đức Quang nhưng không thu hút được quần chúng bằng đoàn văn nghệ sinh viên- học sinh chúng tôi.
Phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” đã được nhiều nhạc sĩ tham gia
như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, Trương Thìn, Miên
Đức Thắng, Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Phú Yên, La Hữu Vang, Nguyễn Xuân
Tân, Nguyễn Tuấn Kiệt, Nguyễn Nam, Trần Xuân Tiến, Phạm Trọng Cầu, Phạm
Thế Mỹ, Trịnh Công Sơn với nhiều ca sĩ sinh viên được nhiều người ưa
thích như: Thanh Tuyền, Phương Bích, Phan Hữu Lương, Thủy Liên, Kim
Phượng, Mỹ Thành, Mỹ Chinh, Phùng Thị Thương…
Tháng 3-1970, tôi đang họp tại Đại học xá Minh Mạng, bỗng có tiếng loa từ phòng quản đốc gọi tôi vào phòng trực có người gặp. Tôi vừa ra đến nơi thì có một tên cảnh sát chìm đập vào gáy tôi ngất xỉu rồi cùng một người khác đưa lên xe Honda chở tôi chạy một đoạn rồi tống lên taxi đưa về Nha Cảnh sát Đô thành.
Chúng bịt mắt tôi lại rồi đánh tứ trụ. Chúng còn cho tôi nhìn thấy cảnh tra tấn dã man một số người khác để tôi sợ hãi. Tôi đã vượt qua bao nhiêu lần bị chúng châm điện chết đi sống lại.
Ngày 20-4-1970, chúng đưa tôi và 21 anh chị em sinh viên khác ra Tòa án Quân sự Mặt trận để xử. Sau ba lần xử, chúng không kết tội được gì vì có luật sư biện hộ và phong trào quần chúng đấu tranh. Chúng đã thả nhiều anh chị em ra. Tôi được phóng thích khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống.
Sau năm 1975, anh tiếp tục học tập và công tác như thế nào?
Sau năm 1975, tôi được về Trường Đại học Y khoa để học tiếp năm cuối. Khi học xong phần lý thuyết và đi thực tập thì tôi được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cử đi dự Festival Thanh niên thế giới tại Cu Ba năm 1976. Khi trở về, tôi nhận được tin tân hiệu trưởng không cho tôi thi tốt nghiệp. Ông đã nói với tôi: “Chính trị và chuyên môn là khác nhau, cậu nên theo con đường chính trị. Cậu đừng lấy danh hiệu bác sĩ đi làm chính trị. Nếu biết từ đầu, tôi bắt cậu học lại năm thứ nhất”. Bộ trưởng Y tế Vũ Văn Cẩn vào Sài Gòn công tác, tôi đã được giới thiệu gặp và trình bày. Sau nhiều lần được Bộ trưởng thuyết phục, ông hiệu trưởng xem lại học lực của tôi trước 1975 rồi nói Bộ trưởng ra quyết định để cho tôi thi tốt nghiệp vào năm 1980.
Năm 1976, tôi là Ủy viên Ban Chấp hành Thành đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN TP. Hồ Chí Minh và được bầu vào Quốc hội khóa VI. Tôi được Thành đoàn và Trung ương Đoàn cử đi nhiều nước trên thế giới để cảm ơn sự ủng hộ của thanh niên và nhân dân các nước đối với công cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Sau năm 1980, tôi được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội. Năm 1984 về nước, tôi tiếp tục công tác ở Trung ương Đoàn với chức danh Trưởng ban Mặt trận Thanh niên, Phó Tổng Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Lúc này, anh Nguyễn Minh Triết là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, anh Lê Quang Vịnh là Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Tôi có đọc tờ báo Thanh Niên do Bác Hồ làm chủ bút thời trước cách mạng nên tôi trao đổi với anh Vịnh ra tờ báo Thanh Niên là diễn đàn của thanh niên như ngày hôm nay.
Tôi có mời anh Nguyễn Công Khế là bạn tù tại Chí Hòa với tôi về công tác ở Báo. Tôi là Tổng Biên tập đầu tiên (1986).
Năm 1990, tôi về công tác tại Hội Chữ thập đỏ TP. Hồ Chí Minh. Hội đồng ý cho tôi mở phòng mạch khám miễn phí cho dân nghèo, nhất là các bà mẹ neo đơn. Tôi vận động các doanh nghiệp ủng hộ tiền để mua thuốc cấp phát cho bệnh nhân. Đến năm 1994, tình hình khan hiếm máu dự trữ tại các bệnh viện thực sự báo động, tôi đã cùng Hội Chữ thập đỏ tổ chức vận động hiến máu nhân đạo và đã thành công cho đến hôm nay.
Anh đã nhập cuộc vào công tác từ thiện bao giờ?
Năm 2004 tôi nghỉ hưu, về tham gia Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp- Anh hùng Lao động làm Chủ tịch. Anh Nghiệp muốn tôi đứng ra lập Chi hội Thiện Tâm. Đến 2005, Chi hội Thiện Tâm có 25 thành viên. Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo giao cho Chi hội Thiện Tâm nhiệm vụ vận động tài trợ mổ tim, hiến giác mạc, khám bệnh miễn phí, vận động hiến máu tình nguyện. Đến nay đã có trên 1.000 ca mổ tim cho bệnh nhân là trẻ em nghèo đã thành công.
Hiện nay tôi đã mở Trường Giáo dục chuyên biệt Khai Trí tại số 214/25F Điện Biên Phủ thuộc phường 17, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh để dạy trẻ em bị bệnh tự kỷ, giúp những em này trở lại hòa nhập với gia đình và cuộc sống. Tôi có một phòng mạch tư, làm được bao nhiêu tiền cũng dành dụm bổ sung vào cho trường này. Hiện nay tôi không có phút nghỉ ngơi và thấy lòng mình nhẹ nhàng lắm. Qua anh cho tôi gửi lời thăm hỏi đến các anh chị em sinh viên phong trào trước đây. Tôi còn nặng lòng với họ, vì họ đã giúp đỡ tôi đứng vững trong thời bão lửa đã qua.
Như anh đã biết, các cao trào sinh viên học sinh đấu tranh vì dân sinh và hòa bình ở miền Nam Việt Nam là cuộc đấu tranh bằng máu và nước mắt đầy gian khổ và khốc liệt vô cùng. Những phong trào ấy góp phần quan trọng vào cuộc đánh đuổi ngoại xâm và thống nhất Tổ quốc.
| Sinh viên-học sinh bị cảnh sát ngụy quyền ngăn chặn tại một số khu vực bằng hàng rào dây thép gai. Ảnh tư liệu |
Làm sao nhớ hết những gì mình đã làm và những đầy đọa của chính quyền Sài Gòn trước đây đối với lực lượng học sinh, sinh viên yêu nước, trong đó có bản thân tôi.
Tôi sinh năm 1942 tại ấp Tân Sơn thuộc xã Tân Sơn Hòa, tỉnh Gia Định (bên trong Sân bay Tân Sơn Nhất ngày nay). Sau này Pháp giải tỏa mở rộng sân bay, gia đình tôi phải dọn về ấp Tân Trụ, xã Tân Sơn Nhì nay là phường 15, quận Tân Bình. Gia đình tôi có 6 anh em, tôi là con trai áp út. Cha tôi vì không biết chữ nên chạy xe thảo mộ (xe ngựa) vào đường cấm bị bọn lính đánh đến chết. Má tôi góa bụa từ tuổi 33, ở vậy nuôi con. Gia đình quá nghèo, má tôi phải làm nghề bốc mộ nuôi con. Tôi vừa đi học vừa phụ giúp má. Tôi gốc họ Trần. Ông nội tôi là Trần Văn Khá, hồi đó làm Chủ tịch xã Tân Sơn Hòa nhưng bí mật tham gia Việt Minh, tổ chức góp vũ khí giúp Việt Minh. Khi phát hiện được việc làm của ông tôi, giặc Pháp đánh chết ông tại trụ sở xã Tân Sơn Hòa nay là Trường Ngô Sĩ Liên. Ba tôi là Trần Văn Đặng. Vì sợ bọn chúng theo dõi nên má tôi đã đổi họ Huỳnh của má cho một nửa số anh em tôi. Do vậy, tôi có tên là Huỳnh Tấn Mẫm từ đó. Tên khó gọi, do vậy nhiều lần thầy giáo dạy chữ Hán ở Trường Pétrus Ký bắt đổi tên nhưng má tôi không chịu vì đó là tên ba tôi đặt. Nhà nghèo không có tiền đi học, tôi được thầy Đội Chiêu thương nên dạy không lấy tiền. Năm ấy tôi đậu vào đệ thất (lớp 6) tại Trường Pétrus Ký với tỷ số 200/5.000 thí sinh. Thầy và má tôi mừng lắm. Gia đình chỉ có một mình tôi đi học, còn các anh chị đều làm thuê kiếm sống. Những năm trung học tại Trường Pétrus Ký, tôi luôn học giỏi và được học bổng, cũng đỡ phần cho má tôi.
Nhớ năm lên 7 tuổi, tôi được các anh, các chú cách mạng tin tưởng giao làm giao liên xã. Học trong trường, tôi được tổ chức giao nhiệm vụ rải truyền đơn. Nhiều lần tôi bị bắt hụt. Ngày còn học tiểu học ở trường thầy Chiêu, thầy có lập đoàn kịch cải lương, tôi được chọn đóng vai chính trong các vở: "Hận nước thù nhà”, “Cờ lau tập trận”, “Thần Kim Quy”, “Quang Trung đại phá quân Thanh”. Tôi đóng các vai chính đạt yêu cầu và có giọng hát cải lương hay, người dân xóm làng đều tưởng tôi lớn lên sẽ là kép chính của Sài Gòn.
Năm 1958, đang học đệ ngũ, tôi được kết nạp vào tổ chức bí mật do anh Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí) lãnh đạo. Năm 1975, anh Sáu Chí là Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh. Tổ hoạt động gồm 3 người tại Trường Pétrus Ký: Tôi- Huỳnh Tấn Mẫm, anh Nguyễn Văn Lang và anh Lâm Xuân Lộc. Sau này, anh Lộc bị địch bắt, tra tấn rất dã man; anh Lang bị lộ, thoát ly vào chiến khu, chỉ còn lại mình tôi hoạt động. Trường Pétrus Ký nổi tiếng vì các phong trào đấu tranh cách mạng, như anh Trần Văn Ơn, đội quyết tử Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư... nên bọn cảnh sát luôn nhòm ngó.
Sau 7 năm học tại Trường Pétrus Ký, tôi đã thi đậu tú tài toàn phần, thi đỗ vào Trường Y khoa và Dược khoa. Sau tôi chọn học y khoa (1963).
Những người bạn thân ngày ấy có anh Nguyễn Hữu Anh- Tiến sĩ Toán, từng du học tại Mỹ; và các anh Nguyễn Hữu Anh, Ngô Vĩnh Long và Nguyễn Thái Bình đều đấu tranh chống Mỹ tại miền Nam. Năm 1972, anh Anh bị địch truy bắt phải trốn sang Canada; còn anh Bình bị trục xuất về nước và bị bắn chết tại Sân bay Tân Sơn Nhất. Từ thời Ngô Đình Diệm qua Nguyễn Văn Thiệu, tôi đã bị bắt hơn 11 lần và chúng tra tấn rất dã man. Có lần tôi bị bắt cùng với các anh chị: Nguyễn Tần Á, Tôn Nữ Quỳnh Trân, Hồng Khắc Kim Mai và bác sĩ Phạm Đình Vỵ. Chúng đưa tôi qua giam tại an ninh quân đội và tra tấn dã man. Một thời gian không khai thác được gì, trước áp lực đấu tranh của quần chúng bên ngoài, chúng đã thả tôi và số anh em khác ra. Ngày 3-2-1966 tôi được kết nạp vào Đảng tại nhà chị Hai Kiều.
Học y khoa năm thứ 4 thì tôi bị bắt trong một cuộc biểu tình nên không được dự thi học kỳ I lên năm thứ 5. Ở kỳ II, tôi đạt điểm cao nhưng không được cấp học bổng nữa. Tôi phải đi dạy kèm để chuẩn bị cho niên học 1969-1970.
Năm 1968, tôi được bầu làm Phó Chủ tịch Ngoại vụ Ban Đại diện sinh viên Y khoa Sài Gòn. Ngày 2-8-1969, liên danh của tôi đã thắng cử Ban Chấp hành Tổng Hội sinh viên Sài Gòn. Sinh viên Nguyễn Văn Quý được bầu làm Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sài Gòn và tôi Phó Chủ tịch Nội vụ Tổng hội. Hai tháng sau, sinh viên Nguyễn Văn Quý tốt nghiệp ra trường, tôi lên thay quyền Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sài Gòn. Phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” ra đời cùng với đoàn văn nghệ sinh viên- học sinh, qua các thời kỳ đoàn trưởng như: Bác sĩ Trương Thìn (1965), Tôn Thất Lập (1969), Trần Xuân Tiến (1973). Trong lúc đó Mỹ- Thiệu tài trợ kinh phí cho các đoàn văn nghệ tuyên truyền chống cộng như: Nguồn Sống, Tiên Rồng, Du Ca của Phạm Duy và Nguyễn Đức Quang nhưng không thu hút được quần chúng bằng đoàn văn nghệ sinh viên- học sinh chúng tôi.
| Sinh viên- học sinh bị cảnh sát ngụy quyền đàn áp và bắt đi. Ảnh tư liệu |
Tháng 3-1970, tôi đang họp tại Đại học xá Minh Mạng, bỗng có tiếng loa từ phòng quản đốc gọi tôi vào phòng trực có người gặp. Tôi vừa ra đến nơi thì có một tên cảnh sát chìm đập vào gáy tôi ngất xỉu rồi cùng một người khác đưa lên xe Honda chở tôi chạy một đoạn rồi tống lên taxi đưa về Nha Cảnh sát Đô thành.
Chúng bịt mắt tôi lại rồi đánh tứ trụ. Chúng còn cho tôi nhìn thấy cảnh tra tấn dã man một số người khác để tôi sợ hãi. Tôi đã vượt qua bao nhiêu lần bị chúng châm điện chết đi sống lại.
Ngày 20-4-1970, chúng đưa tôi và 21 anh chị em sinh viên khác ra Tòa án Quân sự Mặt trận để xử. Sau ba lần xử, chúng không kết tội được gì vì có luật sư biện hộ và phong trào quần chúng đấu tranh. Chúng đã thả nhiều anh chị em ra. Tôi được phóng thích khi ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống.
Sau năm 1975, anh tiếp tục học tập và công tác như thế nào?
Sau năm 1975, tôi được về Trường Đại học Y khoa để học tiếp năm cuối. Khi học xong phần lý thuyết và đi thực tập thì tôi được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cử đi dự Festival Thanh niên thế giới tại Cu Ba năm 1976. Khi trở về, tôi nhận được tin tân hiệu trưởng không cho tôi thi tốt nghiệp. Ông đã nói với tôi: “Chính trị và chuyên môn là khác nhau, cậu nên theo con đường chính trị. Cậu đừng lấy danh hiệu bác sĩ đi làm chính trị. Nếu biết từ đầu, tôi bắt cậu học lại năm thứ nhất”. Bộ trưởng Y tế Vũ Văn Cẩn vào Sài Gòn công tác, tôi đã được giới thiệu gặp và trình bày. Sau nhiều lần được Bộ trưởng thuyết phục, ông hiệu trưởng xem lại học lực của tôi trước 1975 rồi nói Bộ trưởng ra quyết định để cho tôi thi tốt nghiệp vào năm 1980.
Năm 1976, tôi là Ủy viên Ban Chấp hành Thành đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN TP. Hồ Chí Minh và được bầu vào Quốc hội khóa VI. Tôi được Thành đoàn và Trung ương Đoàn cử đi nhiều nước trên thế giới để cảm ơn sự ủng hộ của thanh niên và nhân dân các nước đối với công cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Sau năm 1980, tôi được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội. Năm 1984 về nước, tôi tiếp tục công tác ở Trung ương Đoàn với chức danh Trưởng ban Mặt trận Thanh niên, Phó Tổng Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Lúc này, anh Nguyễn Minh Triết là Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, anh Lê Quang Vịnh là Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Tôi có đọc tờ báo Thanh Niên do Bác Hồ làm chủ bút thời trước cách mạng nên tôi trao đổi với anh Vịnh ra tờ báo Thanh Niên là diễn đàn của thanh niên như ngày hôm nay.
Tôi có mời anh Nguyễn Công Khế là bạn tù tại Chí Hòa với tôi về công tác ở Báo. Tôi là Tổng Biên tập đầu tiên (1986).
Năm 1990, tôi về công tác tại Hội Chữ thập đỏ TP. Hồ Chí Minh. Hội đồng ý cho tôi mở phòng mạch khám miễn phí cho dân nghèo, nhất là các bà mẹ neo đơn. Tôi vận động các doanh nghiệp ủng hộ tiền để mua thuốc cấp phát cho bệnh nhân. Đến năm 1994, tình hình khan hiếm máu dự trữ tại các bệnh viện thực sự báo động, tôi đã cùng Hội Chữ thập đỏ tổ chức vận động hiến máu nhân đạo và đã thành công cho đến hôm nay.
Anh đã nhập cuộc vào công tác từ thiện bao giờ?
Năm 2004 tôi nghỉ hưu, về tham gia Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp- Anh hùng Lao động làm Chủ tịch. Anh Nghiệp muốn tôi đứng ra lập Chi hội Thiện Tâm. Đến 2005, Chi hội Thiện Tâm có 25 thành viên. Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo giao cho Chi hội Thiện Tâm nhiệm vụ vận động tài trợ mổ tim, hiến giác mạc, khám bệnh miễn phí, vận động hiến máu tình nguyện. Đến nay đã có trên 1.000 ca mổ tim cho bệnh nhân là trẻ em nghèo đã thành công.
Hiện nay tôi đã mở Trường Giáo dục chuyên biệt Khai Trí tại số 214/25F Điện Biên Phủ thuộc phường 17, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh để dạy trẻ em bị bệnh tự kỷ, giúp những em này trở lại hòa nhập với gia đình và cuộc sống. Tôi có một phòng mạch tư, làm được bao nhiêu tiền cũng dành dụm bổ sung vào cho trường này. Hiện nay tôi không có phút nghỉ ngơi và thấy lòng mình nhẹ nhàng lắm. Qua anh cho tôi gửi lời thăm hỏi đến các anh chị em sinh viên phong trào trước đây. Tôi còn nặng lòng với họ, vì họ đã giúp đỡ tôi đứng vững trong thời bão lửa đã qua.
Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013
Cựu cận vệ chia sẻ những bí mật của Ngô Đình Diệm
Lâu nay, người ta thường kháo nhau về đường hầm bí mật trong
dinh thự của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm ở Đà Lạt. Thế
nhưng, ít ai được đặt chân xuống đường hầm bí mật này và cũng ít ai biết
cụ thể đường hầm được xây dựng từ lúc nào, máy móc điện đài được lắp
đặt trong đường hầm ra sao? Số phận những người công nhân sau khi xây
dựng xong đường hầm bí mật tại Dinh I như thế nào?
Lần theo dấu vết
Theo con đường Trần Hưng Đạo đến ngã ba Trại Hầm rẽ
phải, đi trên con đường rợp bóng thông mát rượi, du khách sẽ đặt chân
đến Dinh I. Nơi đây, trước kia từng là "Tổng hành dinh" của Cựu hoàng
Bảo Đại. Đến năm 1958 thì biến thành Dinh Tổng thống Đệ nhất Việt Nam
Cộng Hòa (VNCH) Ngô Đình Diệm.
Theo các tư liệu lịch sử cho thấy: Năm 1950, sau
khi ký ban hành Dụ số 06 và Sắc lệnh số 03 QT/TD biến Đà Lạt thành
"Hoàng triều cương thổ", Bảo Đại quyết định bỏ ra 500.000 đồng tiền Đông
Dương để mua lại ngôi biệt thự xinh đẹp này của một chủ trang trại
người Pháp tên là Paul Dary và cho sửa sang lại toàn bộ nhằm có nơi làm
việc tại Đà Lạt.
Trước đó, khi Nhật đảo chính Pháp năm 1945, một
đường hầm bí mật đã được lính Nhật đào từ Dinh I thông đến tận Dinh II
(Dinh Toàn quyền Decoux) dài hơn 3 km, băng qua Sở Điện, tẻ nhánh vào
các biệt thự 11, 16, 18, 26 nằm trên đường Paul Doumer (nay là đường
Trần Hưng Đạo) ra đến tận đường Yên Thế, nhằm bắt sống các quan Tây
trong dinh và các biệt thự.
Do không biết lính Nhật đào đường hầm bí mật từ bao
giờ nên khi biến cố "đảo chính" xảy ra thì các quan chức người Pháp ở
đây hoàn toàn bất ngờ, chỉ còn nước "đê đầu thúc thủ"!
Cụ Nguyễn Đức Hòa, một người hầu cận thân tín của
Cựu hoàng Bảo Đại và mấy đời "nguyên thủ quốc gia" chế độ cũ (nay đã quá
cố) kể với tôi: "khi về Dinh ni tui và một số người đã phát hiện ra
đường hầm bí mật. Trong đường hầm có rất nhiều dơi. Buổi trưa tui và
ông Nguyễn Hằng thường vào soi đèn pin bắt dơi nướng ăn. Nhưng Cựu hoàng
căn dặn tuyệt đối không được hé răng!"
Năm 1956, Ngô Đình Diệm "hất cẳng" Bảo Đại lên làm
Tổng thống VNCH, ngay lập tức việc tịch thu tài sản của Bảo Đại và các
hoàng thân quốc thích được tiến hành khẩn trương.
Đến cuối năm 1958, việc "thay ngôi đổi chủ" mới xong
về cơ bản. Dinh I được dành riêng cho Tổng thống; Dinh II trước đây của
Toàn quyền Decoux được giao cho vợ chồng cố vấn Ngô Đình Nhu - Trần Lệ
Xuân dùng làm "Dinh thự mùa hè"; còn Dinh III - Biệt điện Bảo Đại thì
dành tiếp các quan khách cấp cao của Tổng thống mỗi khi có dịp viếng
thăm và làm việc tại Đà Lạt.
Khi ấy, cụ Hòa vẫn được trọng dụng phục vụ Tổng
thống tại Dinh I, nên có điều kiện biết rất rõ việc xây dựng đường hầm
bí mật trong ngôi dinh này. Cụ Hòa kể: Sau khi Phạm Phú Quốc ném bom
Dinh Độc lập, Ngô Đình Diệm hoảng quá, liền cho gọi nhà thầu Phan Xứng ở
Đà Lạt đến ra lệnh đổ bê tông xây lại đường hầm cho thật kiên cố để có
thể thoát thân khi chẳng may xảy ra "đảo chính".
Dinh thự I, Đà Lạt, Ảnh Phúc Ân
Đường hầm bí mật được thiết kế từ
tầng hai của Dinh, có tam cấp đi xuống phòng làm việc, phòng khách ra
đến tận sân sau để đến bãi đáp trực thăng. Để xây dựng đường hầm bí mật,
người ta đã huy động hơn 20 thợ hồ, thợ sắt lành nghề đến làm việc và
ăn ở tại chỗ, "nội bất xuất, ngoại bất nhập" và việc thi công kéo dài
ròng rã gần 2 năm mới xong. Năm 1960, chẳng may một số nơi trong đường
hầm bị rạn nứt phải làm lại.
Sau năm 1975 Dinh I được giao về
cho quân đội quản lý. Năm 1995, ngôi dinh được bàn giao cho Công ty Du
lịch Lâm Đồng liên doanh với nước ngoài khai thác kinh doanh du lịch.
Vào thời điểm đó, tôi là một
trong những nhà báo may mắn được bước vào đường hầm bí mật của ngôi
dinh này chụp ảnh. Trước mắt tôi là một dinh thự cổ kính ẩn chứa nhiều
điều bí mật. Đề đảm bảo an toàn. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho xây lối
vào đường hầm ngay cạnh đầu giường trong phòng ngủ của ông ta. Phía
trước được ngụy trang bằng một giá sách, chỉ cần đẩy nhẹ sang một bên là
có thể bước vào cửa sắt dẫn xuống đường hầm. Nếu đi từ phía toilette
thì chỉ cần đẩy êm bức vách là có thể bước ngay vào miệng đường hầm bí
mật.
Ngô Đình Diệm thường dặn dò cụ Hòa là người biết rõ nhất về đường hầm bí mật này: "Muốn còn chỗ đội nón thì phải "ba không": Không thấy, không nghe, không biết hỉ!"
Cứ mỗi lần nhận điện từ Sài Gòn:
"Cụ sắp lên", thì ông Hòa lại phải hì hục lau chùi đường hầm suốt mấy
ngày đêm. Khi nào cũng vậy, vừa đặt chân đến dinh, công việc đầu tiên
của Ngô Tổng thống là xuống kiểm tra an toàn của đường hầm bí mật.
Phía dưới đường hầm được xây dựng
bê tông cốt thép khá chắc chắn cao 2m rộng 2,5 m, có ngách để làm 3
phòng: Phòng làm việc và nghỉ ngơi của Tổng thống, phòng điện đài cơ yếu
và phòng bảo vệ (xem ảnh). Có máy phát điện liên tục 24/24 và toàn bộ được điều khiển tự động.
Việc bảo vệ Dinh Tổng thống được
một lực lượng bảo an và mật vụ hùng hậu luân phiên canh gác cẩn mật, đến
một con ruồi cũng khó có thể lọt qua.
Bàn mưu định kế
Cửa vào đường hầm bí mật, Ảnh Phúc Ân
Cụ
Hòa kể rằng, cứ mỗi dịp xuân hè hoặc khi Sài Gòn có "việc lớn" cần bàn
với "ngài cố vấn" thì ông Diệm lại bay lên Đà Lạt. Ông Diệm vốn xuất
thân từ quan lại triều Nguyễn nên khá trầm tĩnh, thích dùng người tài
nhưng lại hay đa nghi. Do vậy, chỉ một mình cụ Hòa được Tổng thống chỉ
định làm "bếp trưởng" lo việc nấu nướng, phục dịch Tổng thống và mang
thức ăn, đồ uống lên phòng cho ông ta.
Ngô Đình Diệm
thường ăn ít, nhưng thích các món ăn cung đình Huế, mỗi thứ một tí và
phải trưng bày sao cho đẹp mắt. Tuy nhiên, trước khi dọn lên cụ Hòa là
người đầu tiên phải nếm thử tất cả các món ăn, để rủi xảy ra đầu độc,
thì cụ Hòa phải người... "đi" trước!
Cứ mỗi lần lên
ngôi Dinh này ông Diệm thường thức khuya, trầm ngâm đi đi lại lại một
mình trong phòng ngủ. Những ngày đẹp trời, ông thường đi dạo quanh dinh,
thăm hỏi những người phục vụ và hay nhắc cụ Hòa phải cho trồng thật
nhiều hoa và cây cảnh, làm sao khu dinh thật tráng lệ và thơ mộng.
Ông ít uống
rượu, không thích mỹ nhân và hay suy tư. Có điều lạ là ông theo Mỹ,
nhưng lại không muốn quân đội Mỹ có mặt tại miền Nam.
Chính tại căn
phòng làm việc trong đường hầm bí mật này, những cuộc bàn mưu định kế
giữa hai anh em Diệm - Nhu đã diễn ra. Hai anh em họ Ngô đã bàn bạc cách
đối phó với Mỹ và triển khai các hoạt động của đảng "Cần lao Nhân vị"
do họ sáng lập ra; đồng thời lập kế sách loại trừ những người Cộng sản
còn lại ở miền Nam qua các chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng", "ấp chiến
lựợc", "khu trù mật".
Chính tại nơi
đây, Diệm còn bàn với Nhu về kế hoạch bỏ tù một số chính trị gia đối lập
và thẳng tay đàn áp đối với những người Phật giáo yêu nước.
Để làm phép
thử lòng trung thành của các tướng lĩnh Sài Gòn, anh em nhà họ Ngô đã
lên kế hoạch "đảo chính giả " ngày 11 và 12/11/1960 do Đại tá Nguyễn
Chánh Thi, tư lệnh lữ đoàn nhảy dù và Trung tá Dương Văn Đông chỉ huy.
Cũng tại đường
hầm này, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cũng đã bàn kế hoạch đối phó
với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam khi Mặt trận tuyên bố thành lập
ngày 20/12/1960 bằng nhiều chiến dịch bố ráp, tàn sát "Việt cộng nằm
vùng" ở cao nguyên Trung phần và miền Nam.
Thiết bị liên lạc trong căn hầm, anh Phúc Ân
Tuy
nhiên, có một nghi vấn đau lòng: Sau khi xây dựng xong đường hầm bí mật
nói trên, toàn bộ số công nhân tham gia xây dựng không còn được trở về
với gia đình của họ nữa!
Để đảm bảo tuyệt đối bí mật, Ngô Đình Diệm đã bị mật ra lệnh thủ tiêu
toàn bộ số công nhân này. Tôi hỏi cụ Nguyễn Đức Hòa: "Cụ có biết việc
này không?". Với vẻ mặt thật buồn, cụ bảo:"Tui cũng nghe nói rứa, nhưng
thực hư không biết răng mô!"
Sau năm 1975, nhiều đoạn đường hầm bí mật bằng đất chạy từ Dinh I đến
Dinh II, qua ngã Yên Thế bị sập, người ta phải lấp lại. Chúng tôi cũng
đã đến Dinh II phát hiện cũng có đường hầm bí mật chạy từ hầm rượu trong
Dinh chạy ra hướng đông nam quả đồi. Tại đường Yên Thế cũng có một đoạn
đường hầm bí mật bằng đất được đào khá công phu.
Năm 2000, Dinh I được mở cửa cho du khách vào tham quan, nhưng đường hầm bí mật thì tuyệt đối không cho ai vào.
Những năm gần đây không hiểu sao Dinh I lại bị đóng cửa. Mới đây, trở
lại ngôi dinh tôi tận mắt chứng kiến một cảnh tượng đau lòng: Cánh cửa
chính của ngôi Dinh I đã được khóa chặt và niêm phong bằng dấu của "Sở
Tài chính Lâm Đồng".
Thiết nghĩ, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng nên sớm kêu gọi
đầu tư chỉnh trang lại Dinh I và khôi phục lại đường hầm bí mật nói
trên để cho du khách vào tham quan, nhằm giúp mọi người hiểu biết thêm
về một quá khứ đầy máu và nước mắt của nhân dân miền Nam cũng như Đà
Lạt đã lùi sâu vào dĩ vãng.
Lời tòa soạn: Sau khi tác giả thực hiện bài viết một
thời gian ngắn thì cụ Nguyễn Đức Hòa qua đời, mang đi theo nhiều bí mật
về ngôi biệt thự một thời mà ông chưa kịp tiết lộ.
Phúc Ân
Những Vụ Thủ Tiêu Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm
Mới
đây trong mục phản hồi trên diển đàn Talawas, ông Nguyen Mai Linh lại
moi ra việc này khi ông ta bàn về ba mươi đồng bạc mà Judas đã nhận:
“Giá trị của ba mươi đồng bạc, vào thời đó, chắc cũng có thể tương đương với ba triệu đồng Việt Nam thời 1963, sử dụng để các tướng lãnh chia nhau, về khoản thù lao sau đảo chánh từ tay Lucien Conein, để bán đứng và giết chết vị tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm.”
Điều
mà Nguyen Mai Linh hình như không muốn nói đến là việc chính người Mỹ
đã từng phải bỏ ra hàng triệu dollars để “hộ giá” cho Ngô Đình Diệm
trong giai đoạn 1954-1955.
“Theo ước lượng, SMM [Saigon Military Mission, nhóm tình báo của tướng Edward Lansdale] bỏ ra 12 triệu dollars mua chuộc đối lập,
trong đó có 3 triệu 6 cho tướng Nguyễn Thành Phương và 3 triệu cho Trần
Văn Soái…Năm 1979, Lansdale gửi thư cho Viện Quân Sử Hoa Kỳ chối về
chuyện mua chuộc quân đội đối lập. Tuy nhiên nhiều sử liệu sau này cho
thấy Lansdale không nói thật hết những gì đã xảy ra.”
Những người như Nguyen Mai Linh cũng thường nói đi nói lại về cái chết của ông Diệm. Nhưng điều mà họ không hoặc rất ít khi muốn nhắc đến là việc những chính khách đối lập như Tạ Chí Diệp, Nguyễn Bảo Toàn và Vũ Tam Anh đã bị thủ tiêutrong
gian đoạn cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm.Các vụ thủ tiêu này cho
thấy rằng đến năm 1963 thì môi trường chính trị tại Miền Nam Việt Nam đã
bị lưu manh hóa một
cách trầm trọng. Do đó, việc chính ông Diệm lại cũng bị cựu thủ hạ của
mình sát hại thật ra không phải là một chuyện quá bất ngờ.
Trên
kệ sách của Virtual Archivist hiện giờ có hai tác phẩm bàn về những vụ
thủ tiêu thường bị người có cảm tình với chế độ Ngô Đình Diệm bỏ quên.
Xem:
A/ Nguyễn Khắc Ngữ, Đai Cương Về Các Đảng Phái Chính Trị Việt Nam, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt Nam, 1989,xem trang 67.
B/ Vĩnh Phúc, Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm, Nhà Xuất Bản Tam Vĩnh, London, 2006, trang. xem 256, xem 257, xem 258 và xem 259.
Virtual
Archivist phóng ảnh và đưa những trang sách đó lên mạng để giúp những
kẻ mang tâm trạng hoài Ngô nói trên nhớ đến việc này khi họ khơi lại
đống tro tàn của thời ông Diệm.
Trái đất đẹp kỳ lạ dưới ống kính vệ tinh vũ tru
Khoa học kỹ thuật hiện đại cho phép người ta có thể chụp trái đất từ
1 góc nhìn thật khác nhau. Tuy nhiên, dưới ống kính của những vệ tinh
đang quay xung quanh trái đất thì Trái đất lại hiện ra với cái nhìn thật
lạ như những bức tranh hội họa trừu tượng cho bạn thỏa sức tưởng tượng.
Những bức ảnh này là một phần của một dự án của Cơ quan Vũ trụ châu Âu được gọi là Quan sát Trái Đất.
Những gợn sóng đỏ và vùng đồng bằng Rainbow trông thật kỳ lạ như ở 1 hành tinh khác.
Lòng sông tại sa mạc Namib của Namibia.
Khu vực đồng bằng sông Hằng, Ấn Độ rực rỡ với màu xanh lá cây mờ ảo.
Một dãy núi ở Peru như 1 tờ giấy bị vò nát.
Đảo ở Canaries như những xoáy mây.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)